Bài tập peptit hay và khó violet

Các thầy cô tổ Hóa – Sinh Trường THPT Huỳnh Hữu Nghĩa (Sóc Trăng) – chia sẻ kinh nghiệm giải nhanh bài tập hóa học, nội dung Peptit và Protein.

Những lưu ý chung

Để giải nhanh được một bài toán hoá học tính theo phương trình hoá học, bước đầu tiên học sinh phải viết được chính xác phương trình hoá học rồi mới tính đến việc làm tới các bước tiếp theo. Nếu viết phương trình sai thì việc tính toán của học sinh trở nên vô nghĩa.

Bạn đang xem: Bài tập peptit hay và khó violet

Riêng đối với dạng bài tập thủy phân peptit và protein, các thầy cô tổ Hóa – Sinh Trường THPT Huỳnh Hữu Nghĩa cho rằng, để viết được phương trình hoá học chính xác, học sinh phải hiểu được bản chất của phản ứng; nghĩa là phản ứng diễn ra trong điều kiện nào, có sự tham gia của môi trường hay không. Điều khó đối với học sinh là phải biết xác định xem phản ứng thủy phân xảy ra thì tạo ra những sản phẩm nào, từ đó mới viết được phương trình hoá học chính xác.

Mặt khác, kỹ năng giải toán hoá học chỉ được hình thành khi học sinh nắm vững lý thuyết, nắm vững các kiến thức về tính chất hoá học của chất, biết vận dụng kiến thức vào giải bài tập.

Học sinh phải hình thành được một mô hình giải toán, các bước để giải một bài toán, kèm theo đó là phải hình thành ở học sinh thói quen phân tích đề bài và định hướng được cách làm đây là một kỹ năng rất quan trọng đối với việc giải một bài toán hóa học.

Có thể bạn quan tâm:  Bài tập về thì quá khứ đơn violet

Do đó, để hình thành được kỹ năng giải nhanh bài tập thủy phân peptit và protein, ngoài giúp học sinh nắm được bản chất của phản ứng, giáo viên phải hình thành cho học sinh một phương pháp giải nhanh bên cạnh đó rèn luyện cho học sinh tư duy định hướng khi đứng trước một bài toán và khả năng phân tích đề bài.

Chính vì vậy, việc cung cấp cho học sinh các phương pháp giải nhanh bài tập thủy phân peptit và protein để giúp học sinh định hướng đúng, xử lý nhanh khi làm bài tập về peptit và protein là điều rất cần thiết, giúp học sinh có tư duy khoa học khi học tập hoá học nói riêng và các môn học khác nói chung nhằm nâng cao chất lượng dạy học…

Phương pháp giải bài tập Peptit

Mối quan hệ giữa CTPT các aminoaxit:

Mối quan hệ về CTCT giữa các peptit:

Quan hệ về phản ứng thủy phân hoàn toàn peptit:

Một số bài tập lý thuyết

Câu 1: Đipeptit X mạch hở có công thức C6H12O3N. Viết công thức cấu tạo và gọi tên các đipeptit đó.

Giải: Đipeptit là hợp chất tạo bởi hai gốc α- amino axit, đipeptit X có công thức C6H12O3N có thể được tạo nên từ những cặp α- amino axit sau: C2H5O2N và C4H9O2N ( có hai đồng phân α vì vậy có 4 công thức cấu tạo) C3H7O2N và C3H7O2N ( có một công thức cấu tạo).Câu 2: Đun nóng hỗn hợp Glyxin và alanin thì thu được hỗn hợp các đi peptit và một sản phẩm phụ Y có công thức C6H10O2N2. Viết công thức cấu tạo và gọi tên của đi peptit và công thức cấu tạo của Y.

Có thể bạn quan tâm:  đề kiểm tra học kì 2 lớp 2

Giải: Khi đun nóng hỗn hợp Glyxin và alanin có thể tạo ra tối đa 4 đi peptit có tên tương ứng là: Gly-Gly, Gly-Ala, Ala-Gly, và Ala-Ala Khi đun nóng các α- amino axit có thể tự kết hợp với nhau để tạo ra hợp chất mạch vòng. Vậy chất Y là do hai phân tử alanin kết hợp với nhau tạo ra mạch vòng.

Xem thêm: Bài Tập Trắc Nghiệm Tiếng Anh 11 Cả Năm (Theo Từng Unit Violet

Câu 3: Khi thủy phân từng phần một loại len làm từ lông thú người ta thu được oligopeptit X. Kết quả thực nghiệm cho thấy phân tử khối của X không vượt quá 500. Khi thủy phân hoàn toàn 886 mg X thu được 450 mg Glyxin và 178 mg alanin, 330 mg Phenylalanin. Khi thủy phân từng phần X thì trong số các sản phẩm thấy có các đi peptit Gly-ala, Ala- Gly mà không thấy có Phe-Gly và cũng không thấy có tripeptit Gly-GlyPhe. Hãy xác định công thức cấu tạo của X.

Giải: Theo bài ra nX> 1,772 mmol, nala= 2 mmol, nphe= 2 mmol, ngly= 6 mmol Từ đó ta có trong X chứa 1 Ala và 1 Phe và không quá 3 gốc Gly. Khi thủy phân từng phần thu được Gly-ala và Ala- Gly, vậy Ala phải nằm giữa hai gốc Gly, không có Phe-Gly vậy gốc Gly phải đứng trước gốc Phe, không có Gy-Gly- Phe vậy không có hai gốc Gly gần nhau giữa Ala và Phe. Cấu tạo của X là: Gly-Ala-Gly-Phe hoặc Gly- Gly-Al-Gly-Phe

Câu 4: Thủy phân hoàn toàn 1 mol pentapeptit X, thu được 2 mol glyxin (Gly), 1 mol alanin (Ala), 1 mol valin (Val) và 1 mol phenylalanin (Phe). Thủy phân không hoàn toàn X thu được đipeptit Val-Phe và tripeptit Gly-Ala-Val nhưng không thu được đipeptit GlyGly. Chất X có công thức là

Có thể bạn quan tâm:  đề kiểm tra tiếng anh lớp 10 học kì 2 có đáp án violet

A. Gly-Phe-Gly-Ala-Val. B. Gly-Ala-Val-Val-Phe. C.Gly-Ala-Val-Phe-Gly. D. Val-Phe-Gly-Ala-Gly.

Một số bài tập về phản ứng thủy phân Peptit

Câu 1: Thủy phân hết m gam tetrapeptit Ala-Ala-Ala Ala (mạch hở) thu được hỗn hợp gồm 28,48 gam Ala, 32 gam Ala-Ala và 27,72 gam Ala-Ala-Ala.

Giá trị của m là: A. 111,74. B. 66,44. C. 0,6. D. 81,54.

Giải:

Câu 2: cho X là hexapeptit Ala-Gly-Ala-val-gly-val và Y là tetrapeptit Gly-Ala-Gly-Glu. Thủy phân hoàn toàn m gam hỗn hợp X và Y thu đuợc 4 amino axit, trong đó có 30 gam glyxin và 28,48g alanin.

Giá trị của m là: A. 73,4. B. 77,6. C. 83,2. D. 87,4.

Giải:

Câu 3: Thủy phân hoàn toàn 60 gam hỗn hợp hai đipeptit thu được 63,6 gam hỗn hợp X gồm các aminoaxit (các aminoaxit chỉ có một nhóm amino và một nhóm cacboxyl trong phân tử). Nếu cho 1/10 hỗn hợp X tác dụng với dung dịch HCl dư, cô cạn cẩn thận dung dịch thì lượng muối khan thu được: A. 8,15 gam. B. 7,09 gam. C. 7,82 gam. D. 16,30 gam.

Xem thêm: Bài Tập Trắc Nghiệm Chương Phép Biến Hình, 15 Câu Trắc Nghiệm Phép Biến Hình

Giải:

Câu 4:Tripeptit mạch hở X và Tetrapeptit mạch hở Y đều được tạo ra từ một amino axit no, mạch hở có 1 nhóm –COOH và 1 nhóm –NH2. Đốt cháy hoàn toàn 0,1 mol X thu được sản phẩm gồm H2O,CO2và N2trong đó tổng khối lượng CO2và H2O bằng 36,3 gam. Nếu đốt cháy hoàn toàn 0,2 mol Y thì số mol O2cần phản ứng là: A. 2,8 mol. B. 1,8 mol. C. 1,875 mol. D.3,375 mol.

Chuyên mục: Đề Thi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *